Sau khi chiếm được nước Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất Âu Lạc vào Nam Việt và chia Âu Lạc ra làm 2 quận là Giao Chỉ (bao gồm vùng Bắc Bộ ngày nay) và Cửu Chân (gồm vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh). Trong hơn 60 năm thống trị, nhà Triệu vẫn duy trì những luật lệ và phong tục tập quán cũ của thời Âu Lạc.
Đến năm 111 TCN, sau khi Lưu Bang thay thế nhà Tần lập ra nhà Hán ở Trung Quốc đã điều hơn 10 vạn quân xuống chinh phục Nam Việt. Sau một thời gian chống cự, nhà Triệu đã đầu hàng. Nhân thời cơ đó, thủ lĩnh đất Tây Vu ( Tây Vu Vương ) đã nổi dậy khởi nghĩa với ý đồ khôi phục lại nền độc lập cho Âu Lạc. Nhưng vì lực lượng yếu nên cuộc khởi nghĩa thất bại, đất Âu Lạc từ đó bị nhà Hán đô hộ (từ 111 TCN đến 220 sau công nguyên) gồm hai thời kì Tây Hán (111 TCN-8TCN) và Đông Hán (23 - 220).
Chiếm xong Nam Việt, nhà Tây Hán tiến hành chia vùng đất mới chiếm ra làm 9 quận là Đạm Nhĩ, Chu Nhai (thuộc đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (đều thuộc Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc ngày nay), Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam), Cửu Chân (vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh ), Nhật Nam (vùng từ Quảng Bình đến Quảng Nam).
Năm 106 TCN, nhà Tây Hán còn đặt châu Giao Chỉ thống suất 7 quận ở lục địa và đặt trị sở ở quận Giao Chỉ là quận lớn nhất và quan trọng nhất. Đứng đầu châu Giao Chỉ là chức thứ sử, đóng trị sở tại Mê Linh (nay là làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc). Mỗi quận có một viên thái thú và một viên đô uý (cai quản việc dân sự và quân sự), bên dưới quận là huyện. Nhìn chung, ở huyện các Lạc tướng vẫn được cai trị dân chúng theo truyền thống cũ. Phương thức bóc lột cơ bản lúc này vẫn là phương thức cống nạp. Tuy nhà Hán đã áp đặt được một bộ máy đô hộ ở các cấp châu, quận, song họ vẫn không nắm được các huyện vì ở huyện vẫn theo chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt.
Đến năm 25 sau công nguyên, nhà Đông Hán tái lập ở Trung Quốc sau một thời gian bị Vương Mãng cướp ngôi (năm 8 - 24). Chính quyền của nhà Đông Hán được tổ chức chặt chẽ hơn. Trước tình hình đó, một số quý tộc, địa chủ Trung Quốc đem theo cả gia đình di cư xuống Giao Châu, dựa vào chính quyền đô hộ mà sinh cơ lập nghiệp, xâm lấn ruộng đất và tài sản của người Việt. Lúc này, đại diện cho chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ là Tích Quang và ở Cửu Chân là Nhâm Diên. Cả Tích Quang và Nhâm Diên trước sau đều dùng lối sống Hoa cải biến phong hóa Việt. Họ mở trường dạy lễ nghĩa và buộc người Việt phải tuân theo lễ nghĩa Trung Quốc. Từ những việc như lấy vợ gả chồng cho đến việc ăn mặc, thậm chí cả việc tổ chức khai thác nông nghiệp cũng đều phải theo truyền thống, tập quán và kỹ thuật Hán...Ngoài việc bắt nhân dân ta phải cống nạp nhiều của quý, vật lạ của phương Nam, nhà Hán còn bóc lột tô thuế nặng nề, chiếm đất lập trang trại, nắm độc quyền sản xuất và mua bán muối. Nhà Hán ra sức củng cố và hoàn thiện chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ, tìm mọi cách xoá bỏ lối "dùng tục cũ mà cai trị", áp dụng pháp luật Hán, bắt nhân dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán.
Tổng hợp (Theo LichsuVN)