Triều đại nhà Ngô bắt đầu từ sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938.
Bằng tài thao lược, Ngô Quyền đã dựng một trận địa cọc nhọn bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng, giành được chiến thắng hoàn toàn vào tháng 11 năm 938. Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội, đặt ra các quan văn quan võ, đặt ra nghi lễ triều đình, thể hiện nền độc lập tự chủ của đất nước ta, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, lập ra một quốc gia trường tồn vạn mùa xuân.
Đến năm 944, sau 5 năm làm vua, Ngô Quyền mất. Em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi của thái tử Ngô Xương Ngập (con trai Ngô Quyền), tự lập làm vua là Dương Bình Vương (944 - 950).
Năm 950, nhân có giặc Chu Thái ở Sơn Tây, Ngô Xương Văn - con trai của Ngô Quyền xin đi dẹp loạn nhưng kì thực ông lập mưu để bắt Dương Tam Kha. Vì tình cậu cháu, Dương Tam Kha không bị giết mà bị giáng xuống làm Trương Công Dương.
Sau khi lật đổ Dương Tam Kha năm 950, Ngô Xương Văn lấy lại ngôi cho nhà Ngô và lên làm vua, lấy niên hiệu là Nam Tấn Vương (950 - 965), đóng đô ở Cổ Loa. Nam Tấn Vương sau đó đã cùng Thái tử Ngô Xương Ngập trị vì đất nước - lúc này nước ta có 2 vua.
Năm 951 Ngô Xương Ngập lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Thân Sách Vương. Làm vua được 8 năm, đến năm 959 Ngô Xương Ngập bị bệnh chết. Con trai ông là Ngô Xương Xí lên nối nghiệp nhưng thế lực ngày càng yếu kém, phải lui về giữ đất Bình Kiều. Sự kiện loạn 12 sứ quân (966 - 968) chấm dứt đã quy giang sơn về một mối, kết thúc triều đại nhà Ngô.
(Tổng hợp)